Home > Birthstone > Tourmaline & Opal - Oct

Trang sức đá quý Tourmaline, Opal jewelry

October birthstone: Tourmaline, Opal là đá quý hộ Mệnh cho người sinh trong tháng 10 và để kỷ niệm 8 năm ngày cưới.
Đá quý Tourmaline, Opal rất tốt với những người:

  • Tuổi Tỵ;
  • Mệnh Hoả (tương sinh) & mệnh Mộc (tương hợp)
  • Ngày sinh thuộc cung Thiên Bình (từ 24/9 đến 23/10).

Trang sức đá quý Tourmaline jewelry

Tourmaline được bắt nguồn từ tiếng Sinhalese "turmali" có nghĩa là phối màu. Có lẽ đây là lý do tại sao thần bí cổ xưa tin rằng tourmaline có thể khuyến khích trực giác nghệ thuật "pha trộn màu sắc".

Tourmaline có mầu sắc đa dạng, mỗi mầu của nó diễn tả một tâm trạng. Tourmaline colors: Most commonly black, but can range from colorless, brown, violet, yellow, orange, blue, red, green, pink, or bi-colored, or even tri-colored.

tourmaline
Brazil vào những năm 1500, một người chinh phục Tây Ban Nha rửa sạch bụi bẩn trên một tinh thể Tourmaline màu xanh lá cây và nhầm lẫn những viên ngọc quý với Emerald (Ngọc Lục bảo). Sự nhầm lẫn của ông đã tồn tại cho đến khi các nhà khoa học công nhận Tourmaline là một loại khoáng vật riêng biệt vào những năm 1800.

Sự nhầm lẫn về danh tính của đá thậm chí còn được phản ánh theo tên của nó, bắt nguồn từ Toramalli, có nghĩa là "hỗn hợp đá quý" trong tiếng Sinhalese (một ngôn ngữ của Sri Lanka). Đây là thuật ngữ của các thương gia người Hà Lan áp dụng cho các viên đá nhiều màu, sẫm màu mà các thợ mỏ tìm thấy trong sỏi đá cát của Sri Lanka.

Thật dễ hiểu tại sao mọi người dễ dàng nhầm lẫn Tourmaline với các đá quý khác: Rất ít viên đá có nhiều màu sắc rực rỡ như Tourmaline.

da quy tourmaline
The state of Maine has produced beautiful tourmalines. - Courtesy ICA/Courtesy of Boston Findings Co., Inc.

Những khám phá tại Brazil trong những năm 1980 và 1990 đã làm tăng tính hấp dẫn của Tourmaline bằng cách đưa những sắc thái mãnh liệt mới cho thị trường.

Người ta sử dụng Tourmaline như một loại đá quý trong nhiều thế kỷ, nhưng cho đến khi phát triển ngành khoáng vật học hiện đại, họ đã xác định nó như một số loại đá khác (ruby, saphia, ngọc lục bảo, vân vân) dựa trên màu của nó.

Một trong những báo cáo đầu tiên về Tourmaline ở California là vào năm 1892.

Vào cuối những năm 1800, Tourmaline được biết đến như một viên ngọc quý của Mỹ thông qua nỗ lực của nhà nghiên cứu George F. Kunz của Tiffany. Ông đã viết về Tourmaline của Maine và California, và ca ngợi những viên đá mà họ sản xuất.

Mặc dù có gốc rễ ở Mỹ, thị trường lớn nhất của Tourmaline vào thời đó là ở Trung Quốc. Phần lớn Tourmaline màu hồng và đỏ từ Hạt San Diego ở California đã được vận chuyển tới Trung Quốc vì bà Từ Hy Thái Hậu đặc biệt thích màu sắc đó.

Các mỏ khai thác mỏ nổi tiếng của Quận San Diego bao gồm Nữ hoàng Tourmaline, Tourmaline King, Stewart, Pala Chief và Himalaya.

Các thợ mỏ trở nên phụ thuộc vào thương mại của Trung Quốc khi chính phủ Trung Quốc sụp đổ vào năm 1912, thương mại buôn lậu của Mỹ cũng sụp đổ. Mỏ Himalaya ngừng sản xuất khối lượng lớn đá quý. Các mỏ khác ở Hạt San Diego, giống như mỏ Stewart Lithia ở Pala, vẫn tạo ra các nguồn cung thạch hiếm đá quý.

Việc cung cấp Tourmaline bắt đầu mở rộng trong nửa đầu của thế kỷ XX, khi Brazil cung cấp một lượng lớn ra thị trường. Sau đó, bắt đầu từ những năm 1950, các tìm kiếm bổ sung đã xuất hiện ở các quốc gia khác trên thế giới. Madagascar và Afghanistan đã sản xuất Tourmaline màu đỏ tinh khiết.

Tourmaline giúp mang lại sức mạnh cho người đeo.




Về khoáng vật học, Tourmaline thuộc nhóm Tourmaline với thành phần hóa học là Elbaite Na(Li1.5,Al1.5)Al6Si6O18(BO3)3(OH)4, Dravite NaMg3Al6Si6O18(BO3)3(OH)4, Liddicoatite Ca(Li2Al)Al6Si6O18(BO3)3(OH)3F, Chromedravite NaMg3Cr6Si6O18(BO3)3(OH)4, độ cứng 7-7.5.
Tourmaline được tìm thấy ở Myanmar, Russia, Pakistan, Afghanistan, Madagascar, Mozambique, Namibia, Zambia, Tanzania, Kenya, Nigeria, Brazil và America.


Trang sức đá quý Opal jewelry

OPAL là một loại đá quý quyến rũ bởi đặc điểm quang học độc đáo của nó. Khi nhìn từ hướng khác nhau, Opal thường thể hiện phổ màu sắc khác nhau: "Bạn sẽ thấy ngọn lửa rực sức sống của Ruby, màu tím vinh quang của Amethyst, màu xanh lá của Emerald, màu vàng của Topaz, màu xanh nước biển của Sapphire, tất cả lấp lánh cùng nhau trong một phối thức ánh sáng tuyệt vời". Opal colors: Colorless, white, yellow, red, orange, green, brown, black, blue, pink.

wide variety of garnets
Các nhà văn đã so sánh opal với núi lửa, thiên hà, và pháo hoa. Những người ngưỡng mộ đã đưa ra những cái tên thơ mộng phi thường như Pandora, Ánh sáng của Thế giới và Hoàng hậu.

Ở Rome cổ, Opal tượng trưng cho tình yêu và hy vọng. Người La Mã đã cho nó một cái tên-opalus-đó là đồng nghĩa với "đá quý."

Thời Trung cổ, Opal được trân trọng gọi là ophthalmios, hoặc đá quý của mắt, do một niềm tin phổ biến rằng nó sẽ có lợi cho thị lực. Một số thậm chí còn nghĩ Opal có thể khiến người đeo trở nên vô hình.

Người La Mã nghĩ rằng Opal là loại đá quý giá nhất và mạnh mẽ hơn tất cả. Người Bedouin tin rằng Opal được tạo thành do sét đánh và rơi xuống từ bầu trời trong những cơn bão.

Nhiều nền văn hóa đã cho rằng Opal có nguồn gốc và sức mạnh siêu nhiên. Truyền thuyết Ả Rập nói rằng nó rơi từ trên trời trong chớp nhoáng. Những người Hy Lạp cổ đại tin rằng Opal cho chủ sở hữu của họ những món quà của lời tiên tri và bảo vệ chúng khỏi bệnh. Người châu Âu từ lâu đã coi đá quý này là biểu tượng của hy vọng, sự thuần khiết và sự thật.

Trong suốt lịch sử, Opal đã được coi là may mắn nhất và huyền diệu nhất trong tất cả các loại đá quý bởi vì nó có nhiều màu sắc vạn hoa mà không có bất cứ một loại đá quý nào có được.

Úc bắt đầu sản xuất opal thương mại vào những năm 1890 và nhanh chóng trở thành nguồn cung cấp chính của thế giới.

Về khoáng vật học, Opal thuộc nhóm Hydrated Silica với thành phần hóa học là SiO2•nH2O, độ cứng 5-6.5.

Opal được tìm thấy ở Australia, Ethiopia, Brazil, Peru, Mexico và America.



Nguồn GIA